Bấy giờ, đã đến lúc đức Thế
Tôn khoác y – bát lên đường vào thành khất thực, trên đường đi, đức Thế
Tôn thấy một chàng thanh niên đang lễ bái, là người con có hiếu nên
nghe theo lời dạy của cha trước khi mất, cứ mỗi sáng, sau khi tắm gội
xong anh ta ra đường thực hành việc lễ bái sáu phương: Đông, Tây, Nam,
Bắc, trên, dưới. Cuộc gặp gỡ là duyên khởi cho bản kinh Thiện Sanh ra
đời.
Đây là một bản kinh nguyên thủy, ngắn gọn,
ghi lại lời Phật dạy cách đối nhân xử thế, cách thực thi các bổn phận và
trách nhiệm của người Phật tử đối với bản thân, gia đình và xã hội,
rộng hơn là Phật dạy cách kiến tạo một xã hội hài hòa, một cuộc sống đầy
an lành và hạnh phúc.
Trong tạng A-hàm, theo bản dịch Việt từ Hán
mới nhất của Thượng tọa Tuệ Sỹ thì Kinh Thiện Sanh thuộc No.16, Phần
II, Trường A-hàm. Trong tạng Nikaya, theo bản dịch Việt từ Pali của Hòa
Thượng Thích Minh Châu, tương đương kinh Thiện Sanh là Kinh Giáo Thọ
Thi-Ca-La-Việt (Sigàlovàda sutta) thuộc No.31, Trường Bộ Kinh. Bài viết
chủ yếu trích từ ấn bản điện tử từ trang nhà Phatviet.com của TT.Tuệ Sỹ,
tất cả các đoạn trích đều được đóng mở “.”, phần lễ bái sáu phương, hầu
hết lấy nguyên văn trong kinh.
Tránh bốn việc ác và sáu việc làm hao tổn tài sản
Khi
Phật ở tại núi Kỳ-xà-quật, dẫn đầu đoàn khất thực với đại chúng hai
ngàn năm trăm vị Tỳ-Kheo đi vào thành, đức Thế Tôn thấy một gia chủ tử
tên Thiện Sanh đang lễ sáu phương, Ngài hỏi:
“Vì sao, ngươi vào
buổi sáng sớm ra khỏi thành, đi đến khu công viên, với cả người còn ướt
đẫm, mà ngươi lại lạy các phương như thế?”
Thiện Sinh bạch Phật:
“Khi
cha con sắp chết có dặn: “Nếu con muốn lạy, trước hết hãy lạy các
phương Đông,Tây, Nam, Bắc, trên và dưới”. Con vâng lời cha dạy không dám
chống trái.”
Phật bảo Thiện Sanh:
“Này con trai
trưởng giả! Quả có cái tên các phương đó chứ không phải không. Nhưng
trong pháp Hiền Thánh của ta chẳng phải lễ sáu phương như thế là cung
kính đâu.”
Thiện Sinh thưa:
“Cúi xin đức Thế Tôn thương dạy cho con cách lễ sáu phương theo pháp Hiền Thánh.”
Phật bảo Thiện Sinh:
“Nếu
trưởng giả hay con trưởng giả nào biết tránh bốn nghiệp kết không làm
ác theo bốn trường hợp và biết rõ sáu nghiệp hao tổn tài sản. Như thế,
này Thiện Sinh, nếu trưởng giả hay con trai trưởng giả nào tránh được
bốn việc ác là lễ kính sáu phương”
Bốn nghiệp kết mà Phật dạy:
Sát sinh, trộm cắp, dâm dật, vọng ngữ, đây là bốn điều xấu ác mà bất cứ
ai cũng nên tránh, hàng ngày đọc báo chúng ta vẫn thường thấy nhan nhãn
các tội phạm phạm bốn điều trên: giết người, cướp của… gây cho xã hội
những bất an thường nhật. Rõ thấy, những điều mà Phật dạy chẳng có gì
khác ngoài những chuyện thực thường ngày ở thế gian.
Bốn trường hợp ác:
tham dục, sân hận, sợ hãi, ngu si. Về tham dục, không phải cứ tham dục
là điều xấu, mà tham dục cần phân biệt có hai loại, loại tham dục phục
vụ ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thùy) khiến cho tâm trí mê mờ, dẫn đến
những vọng tưởng điên đảo, sân hận, sợ hãi và ngu si… loại tham dục này
thì cần phải loại bỏ, loại tham dục thứ hai phục vụ cho chánh kiến,
chánh tư duy, chánh nghiệp… cho sự học hành, phát triển nhân cách, tinh
thông trí tuệ, nâng cao dân trí, sự phồn thịnh xã hội, sự bình an, sự
hạnh phúc..thì cần thực hành và phát huy.
Sáu nghiệp hao tổn tài sản cần tránh:
1. Đam mê rượu chè.
2. Cờ bạc.
3. Phóng đãng.
4. Đam mê kỹ nhạc.
5. Kết bạn người ác.
6. Biếng lười.
Phật bảo Thiện Sinh:
“Này
Thiện Sinh, nếu trưởng giả hay con trai trưởng giả biết rõ bốn kết hành
không làm ác theo bốn trường hợp, lại biết sáu nghiệp tổn tài ấy là,
này Thiện Sinh, tránh được bốn trường hợp, cúng dường sáu phương, thì
đời này tốt đẹp, đời sau tốt đẹp; đời này căn cơ và đời sau căn cơ;
trong hiện tại được người trí ngợi khen, được quả báo bậc nhất; sau khi
chết được sanh lên trời, cõi thiện”.
Như vậy, Phật dạy người
nào tránh được bốn nghiệp kết, bốn việc ác, sáu nghiệp hao tổn tài sản
thì không những đời này đẹp và cả đời sau cũng được hưởng những quả tốt
đẹp, đời này có duyên lành và đời sau cũng có duyên lành, trong hiện tại
được người ngợi khen, xã hội ngợi khen, gia đình ngợi khen và trên hết
phương ấy được an ổn, xã hội ấy được tốt đẹp, không lo sợ…
“Người nào không làm ác,
Do tham, hận, sợ, si,
Thì danh dự càng thêm,
Như trăng hướng về rằm”.
Bốn hạng kẻ thù và bốn hạng người đáng thân
Trong
Trung Hoa Kim Cổ Kỳ Nhân có thuật lại tình bạn giữa Bá Nha – Tử Kỳ, một
tình bạn đẹp lưu danh muôn thuở. Bá Nha là một vị quan làm đến chức
Thượng đại phu, còn Tử kỳ chỉ là một chàng nông dân kém Bá Nha chục
tuổi. Nhưng chỉ mỗi Bá Nha hiểu được tiếng đàn của Tử Kỳ, từ đó hai
người trở thành tri kỷ, khi nghe tin Tử Kỳ chẳng may qua đời, Bá Nha đã
cầm đờn đập mạnh vào tảng đá,cây đờn vỡ tan, sau đó đọc bốn câu thơ:
“Dao cầm đập nát đau lòng phượng,
Đã vắng Tử Kỳ đàn với ai?
Gió xuân bốn mặt, bao bè bạn.
Muốn tìm tri âm, thật khó thay!”
Trong
cuộc sống ai cũng cần có bạn, tình bạn kiểu Bá Nha – Tử Kỳ thuộc dạng
xưa nay hiếm, nhưng cũng cần phải lựa bạn tốt mà chơi, vì nếu “giao du
với bạn xấu có sáu lỗi: 1, tìm cách lừa dối; 2, ưa chỗ thầm kín; 3, dụ
dỗ vợ người; 4, mưu đồ chiếm đoạt tài sản của người; 5, xoay tài lợi về
mình; 6, ưa phanh phui lỗi người”. Đó là sáu tai hại về bạn xấu. Nếu
chúng ta làm bạn với kẻ ác mãi thì gia sản mỗi ngày mỗi tiêu tán”.
Phật bảo Thiện Sanh.
“Có
bốn hạng kẻ thù mà như người thân, ngươi nên biết. Bốn kẻ ấy là những
ai? 1, hạng uý phục; 2, hạng mỹ ngôn; 3, hạng kính thuận; 4, hạng ác hữu.
[(1)
“Hạng úy phục thì thường hay làm bốn việc: một, cho trước đoạt lại sau;
hai, cho ít mong trả nhiều; ba, vì sợ gượng làm thân; bốn, vì lợi gượng
làm thân.
(2) “Hạng mỹ ngôn thì thường hay làm bốn việc: một,
lành dữ đều chiều theo; hai, gặp hoạn nạn thì xa lánh; ba, ngăn cản
những điều hay; bốn, thấy gặp nguy tìm cách đùn đẩy.
(3) “Hạng
kính thuận thì thường làm bốn việc: một, việc trước dối trá; hai, việc
sau dối trá; ba, việc hiện dối trá; bốn, thấy có một chút lỗi nhỏ đã vội
trách phạt”.
(4) “Hạng bạn ác thì thường làm bốn việc: một, bạn
lúc uống rượu; hai, bạn lúc đánh bạc; ba, bạn lúc dâm dật; bốn bạn lúc
ca vũ.”
“Có bốn hạng người thân đáng thân vì thường đem lại lợi
ích và che chở. Những gì là bốn? Một, ngăn làm việc quấy; hai, thương
yêu; ba, giúp đỡ; bốn, đồng sự. Đó là bốn hạng người thân đáng thân
cận”.
1) Này Thiện Sinh, hạng ngăn quấy thì thường làm bốn
việc đem lại nhiều lợi ích và hay che chở: thấy người làm ác thì hay
ngăn cản, chỉ bày điều chánh trực, có lòng thương tưởng, chỉ đường sinh
Thiên. Đó là bốn trường hợp ngăn cản việc quấy đem lại nhiều lợi ích và
hay che chở.
(2) Hạng thương yêu thì thường làm bốn việc: Mừng khi
mình được lợi, lo khi mình gặp hại, ngợi khen đức tốt mình, thấy mình
nói ác thì tìm cách ngăn cản. Đó là bốn điều thương yêu đem lại nhiều
lợi ích và hay che chở.
(3) Hạng giúp đỡ có bốn việc. Những gì là
bốn? Đó là: che chở mình khỏi buông lung, che chở mình khỏi hao tài vì
buông lung, che chở mình khỏi sợ hãi, khuyên bảo mình trong chỗ vắng
người.
(4) Hạng đồng sự thì thường làm bốn việc: không tiếc thân
mạng với bạn, không tiếc của cải với bạn, cứu giúp bạn khỏi sợ hãi,
khuyên bảo bạn lúc ở chỗ vắng người.”]
Lễ bái sáu phương hay cách thức xây dựng một xã hội hạnh phúc
Sáu
phương là gì, tại sao phải lễ bái sáu phương như chàng Thiện Sanh đã
làm, anh ta làm vì nghe lời cha mà không hiểu ý nghĩa của việc lễ bái
đó. Phật dạy: “Sáu phương là gì? Phương Đông là cha mẹ, phương Nam là
sư trưởng, phương Tây là thê thiếp, phương Bắc là bạn bè thân thích,
phương trên là các bậc trưởng thượng, Sa-môn, Bà-la-môn, phương dưới là
tôi tớ”. Bài dạy lễ sáu phương là cách mà Phật dạy đạo làm người.
Đạo hiếu làm con, phận làm cha mẹ.
Kẻ làm con phải kính thuận cha mẹ với năm điều:
1. Cung phụng không để thiếu thốn.
2. Muốn làm gì thưa cha mẹ biết.
3. Không trái điều cha mẹ làm.
4. Không trái điều cha mẹ dạy.
5. Không cản chánh nghiệp mà cha mẹ làm.
Kẻ làm cha mẹ phải lấy năm điều này chăm sóc con cái:
1. Ngăn con đừng để làm ác.
2. Chỉ bày những điều ngay lành.
3. Thương yêu đến tận xương tủy.
4. Chọn nơi hôn phối tốt đẹp.
5. Tùy thời cung cấp đồ cần dùng..
Này
Thiện Sinh, kẻ làm con kính thuận và cung phụng cha mẹ, cha mẹ thương
con, bảo bọc cho con thế thì gia đình ấy được hạnh phúc, xã hội bình an,
phương ấy được an ổn không có điều lo sợ.
Đạo nghĩa thầy trò
Đệ tử cung phụng sư trưởng có năm điều:
1. Hầu hạ cung cấp điều cần.
2. Kính lễ cúng dường.
3. Tôn trọng quí mến.
4.Thầy có dạy bảo điều gì không trái nghịch.
5. Thầy có dạy bảo điều gì nhớ kỹ không quên. Kẻ làm đệ tử cần phải thờ kính sư trưởng với năm điều ấy.
Thầy cũng có năm điều để săn sóc đệ tử:
1. Tùy thuận pháp mà huấn luyện.
2. Dạy những điều chưa biết.
3. Giải nghĩa rành rõ những điều trò hỏi.
4. Chỉ cho những bạn lành.
5. Dạy hết những điều mình biết không lẫn tiếc.
Nếu
đệ tử kính thuận, cung kính nghe lời sư trưởng, thầy thì thương trò,
chỉ bảo dạy dỗ tận tình cho học trò thì nền giáo dục xã hội ấy phát
triển, phương ấy vững bền, an ổn không có điều lo sợ.
Đạo nghĩa vợ chồng
Chồng phải có năm điều đối với vợ
1. Lấy lễ đối đãi nhau.
2. Oai nghiêm không nghiệt.
3. Tùy thời cung cấp y, thực.
4. Tùy thời cho trang sức.
5. Phó thác việc nhà.
Vợ cũng phải lấy năm việc cung kính đối với chồng
1. Dậy trước.
2. Ngồi sau.
3. Nói lời hòa nhã.
4. Kính nhường tùy thuận.
5. Đón trước ý chồng.
“Chồng
đối với vợ thương yêu, tôn trọng, vợ đối với chồng cung kính đối đãi
nhau, như thế thì phương ấy được an ổn không điều gì lo sợ”.
Quan hệ bạn bè, tình làng nghĩa xóm
Người ta phải lấy năm điều thân kính đối với bà con
1. Chu cấp.
2. Nói lời hiền hòa.
3. Giúp ích.
4. Đồng lợi.
5. Không khi dối.
Bà con cũng phải lấy năm điều đối lại
1. Che chở cho mình khỏi buông lung.
2. Che chờ cho mình khòi hao tài vì buông lung.
3. Che chở khỏi sự sợ hải.
4. Khuyên răn nhau lúc ở chỗ vắng người.
5. Thường ngợi khen nhau.
“Tình người, tình làng nghĩa xóm, biết thân kính bà con như vậy thì phương ấy được yên ổn không điều chi lo sợ”.
Quan hệ chủ tớ, trên dưới
Này Thiện Sinh, chủ đối với tớ có năm điều để sai bảo
1. Tùy khả năng mà sai sử.
2. Tùy thời cho ăn uống.
3. Phải thời thưởng công lao.
4. Thuốc thang khi bệnh.
5. Cho có thời giờ nghỉ ngơi.
Tôi tớ phải lấy năm điều phụng sự chủ:
1. Dậy sớm.
2. Làm việc chu đáo.
3. Không gian cắp.
4. Làm việc có lớp lang.
5. Bảo tồn danh giá chủ.
“Này Thiện Sinh, nếu chủ đối với tớ được như vậy thì phương ấy được an ổn không điều chi lo sợ”.
Quan hệ giữa đàn việt với Sa-môn
Kẻ đàn việt cung phụng hàng Sa-môn với năm điều.
1. Thân hành từ.
2. Khẩu hành từ.
3. Ý hành từ.
4. Tùy thời cúng thí.
5. Không đóng cửa khước từ.
Sa-môn, Bà-la-môn cũng khuyên dạy theo sáu điều:
1. Ngăn ngừa chớ để làm ác.
2. Chỉ dạy điều lành.
3. Khuyên dạy với thiện tâm.
4. Cho nghe những điều chưa nghe.
5. Những gì đã được nghe làm cho hiểu rõ.
6. Chỉ vẻ con đường sanh thiên.
“Này Thiện Sinh, nếu đàn việt kính phụng hàng Sa-môn, Bà-la-môn như thế thì phương ấy được an ổn không điều gì lo sợ”.
Bấy giờ Thiện Sinh bạch Phật:
“Lành
thay, bạch Thế Tôn! Thật quá chỗ mong ước của con xưa nay, vượt xa
những lời dạy của cha con. Như lật ngửa những gì bị úp xuống; như mở ra
những gì bị đóng kín; như người mê được tỏ, đang ở trong nhà tối được
gặp đèn, có mắt liền thấy. Những gì được Như Lai thuyết giảng cũng như
thế; bằng vô số phương tiện khai ngộ cho kẻ ngu tối; làm rõ pháp thanh
bạch. Phật là Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác, do đó có thể chỉ bày,
hướng dẫn cho đời. Nay con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Cúi
xin đức Thế Tôn chấp thuận cho con được làm ưu-bà-tắc ở trong Chánh
pháp. Kể từ hôm nay cho đến trọn đời, con nguyện không giết, không trộm,
không tà dâm, không nói dối, không uống rượu.”
Đọc toàn bộ
nội dung kinh, một bản kinh ngắn, súc tích, ngôn ngữ Phật dùng rất rõ
ràng mà bất cứ ai đọc cũng có thể nắm bắt, lời dạy như luồng sáng mở ra
những gì bị đóng kín; như người mê được tỏ, đang ở trong nhà tối được
gặp đèn, có mắt liền thấy, rất thiết thực, căn bản, rất cần cho chúng ta
trong ứng xử với các mối quan hệ thường ngày trong cuộc sống.
Các
pháp đều nương với nhau mà tồn tại, cũng vậy, mỗi người trong cuộc sống
cũng đều phải có nghĩa vụ và trách nhiệm về một điều gì đó với một ai
đó, mỗi một ai đó sẽ là phần còn lại về nghĩa vụ và trách nhiệm của
người nào đó, suy ra sẽ nhìn thấy một ma trận ngang dọc, ma trận vuông
tròn các quan hệ. Quan hệ cha mẹ, con cái, ai cũng ít nhất một lần làm
học trò, ai cũng ít nhất có một người bạn, ai cũng phải làm một việc gì
đó để sống,…vì vậy cần phải ứng xử sao cho hợp đạo hợp nghĩa, đúng mực
để tự bảo vệ bản thân tức là bảo vệ cho gia đình, cho xã hội.
Kinh
Thiện Sanh, là bản kinh căn bản dạy cho ta biết cách giữ gìn các mối
quan hệ đó một cách tốt đẹp, ở đó ta thấy được các quan hệ được Phật dạy
đều theo hai chiều rất tinh tế, như đời: “đường hai nẻo xuống lên”.
Showing posts with label học làm người. Show all posts
Showing posts with label học làm người. Show all posts
Friday, June 24, 2016
Subscribe to:
Posts (Atom)
